Tài sản trí tuệ doanh nghiệp là những sản phẩm do trí tuệ con người sáng tạo ra thông qua các hoạt động tư duy, sáng tạo trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là một tài sản vô hình, tài sản trí tuệ có các đặc điểm nổi bật.
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa "Tài sản là của cải vật chất để sản xuất hoặc tiêu dùng".
Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản".
"Tài sản trí tuệ là tài sản được hình thành qua quá trình hoạt động trí tuệ của con người. Tài sản trí tuệ là một bộ phận của tài sản vô hình, khác với khả năng không thể hoặc khó có thể tái tạo của tài sản hữu hình, tài sản trí tuệ lại có khả năng tái tạo".
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 19006198
- Là kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ. Khoa học trong trường hợp này được hiểu theo nghĩa cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn. Công nghệ trong trường hợp này được hiểu là công nghệ có thể chuyển giao độc quyền (ví dụ công nghệ lên men bia) hoặc công nghệ không thể chuyển giao độc quyền (ví dụ công nghệ đào tạo).
- Tài sản trí tuệ có khả năng tái tạo và phát triển.
- Tài sản trí tuệ có khả năng bị hao mòn vô hình. Một tài sản trí tuệ có thể được coi là có giá trị lớn ở thời điểm này, nhưng sẽ có những tài sản trí tuệ khác có giá trị cao hơn ở những thời điểm sau đó.
- Tài sản trí tuệ tồn tại ở dạng thông tin và có khả năng lan truyền vô tận, ví dụ một chương trình phát thanh, truyền hình được phát đi ở một quốc gia thì ngay lập tức nó có thể lan truyền đến tất cả mọi quốc gia trên thế giới.
- Tài sản trí tuệ dễ bị sao chép, ví dụ một tác phẩm văn học có thể bị sao chép thành nhiều bản, chất lượng thông tin của bản sao tương đương với chất lượng thông tin của bản gốc. Đây là đặc điểm đáng lưu ý, nhất là trong thời đại kĩ thuật số, qua đó cho thấy nếu không có cơ chế pháp luật hữu hiệu để bảo hộ tài sản trí tuệ thì không thể kiểm soát được tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
- Trong cùng một thời điểm, tài sản trí tuệ có thể nhiều người cùng sử dụng, mà việc sử dụng của người này có thể không hoặc có thể ảnh hưởng tới việc sử dụng của người khác.
- Tài sản trí tuệ có thể được định giá bằng tiền và có thể được trao đổi trên thị trường, ví dụ có thể mua quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng sáng chế thông qua hợp đồng chuyển giao sáng chế, nhà xuất bản có thể mua quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một tác phẩm văn học.
- Việc chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản trí tuệ có thể ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.
Như những tài sản vô hình khác, giá trị hiện tại của tài sản trí tuệ lại "không dễ nhìn thấy". Nó được tiềm ẩn trong hàng hóa. Giá trị của nó được khai thông trong tính sáng tạo của nhà doanh nghiệp và trong tính thương mại của nhà sáng tạo.
Là tài sản vô hình nhưng tài sản trí tuệ lại là thứ hàng hóa rất dễ bị chiếm đoạt. Nó có thể bị đánh cắp khá dễ dàng, bị sao chép, và sau đó được bán đi mà không có sự cho phép của chủ sở hữu. Vì vậy việc bảo vệ tài sản hiện nay đáng phải quan tâm nhiều hơn, nhất là đối với doanh nghiệp "đang ăn nên làm ra". Chiếm hữu và quản lý tài sản trí tuệ đã trở thành yếu tố thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bản thân mỗi doanh nghiệp phải hình thành từ ý thức đến tổ chức thực hiện việc nghiên cứu, khai thác, quản lý cho mọi vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ. Cụ thể: Cần những suy tính, cử một nhân viên, lập một bộ phận để chuyên quản lý các vấn đề liên quan đến Sở hữu trí tuệ của Doanh nghiệp. Đó không chỉ nằm trong chiến lược kinh doanh tấn công mà còn có ý nghĩa quyết định trong việc phòng vệ. Dễ dàng thấy những dẫn chứng của doanh nghiệp gặp nhiều rắc rối bởi sự xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình..
TVQuản trị viênQuản trị viên
Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm