Thứ Tư, Tháng Hai 28, 2024
Google search engine
HomeDân sựPhân loại và nguồn chứng cứ

Phân loại và nguồn chứng cứ

Việc nghiên cứu chứng cứ nói chung, nguồn chứng cứ nói riêng trong vụ án hình sự có một ý nghĩa lớn không chỉ về mặt pháp lý, mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Nếu không tìm được nguồn chứng cứ sẽ không thể có chứng cứ giải thích,làm sáng tỏ các tình tiết và diễn biến của vụ án.

1-  Phân loại chứng cứ

Trên thực tế, chứng cứ thường được phân chia thành các loại khác nhau. Có nhiều cách phân loại chứng cứ, như căn cứ vào nguồn chứng cứ, cách thức tạo thành chứng cứ, hình thức tồn tại của chứng cứ, mối liên hệ giữa chứng cứ với các tình tiết, sự kiện cần chứng minh của vụ việc dân sự, giá trị chứng minh của chứng cứ đối với vụ việc dân sự V.V.. Tùy theo từng cách phân loại, chứng cứ có thể được gọi dưới những tên khác nhau như chứng cứ gốc, chứng cứ thuật lại; chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp; chứng cứ viết, chứng cứ miệng; chứng cứ khẳng định, chứng cứ phủ định V.V..

Chứng cứ qua phân loại được gọi dưới những tên khác nhau. Tuy vậy, việc phân loại chứng cứ không làm thay đổi giá trị chứng minh của chứng cứ. Việc phân loại chứng cứ chủ yếu có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu và đưa ra những quy định về chứng cứ. Bên cạnh đó, nó cũng có ý nghĩa đối với việc sử dụng chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự. Chẳng hạn, nếu có chứng cứ thuật lại thì phải có chứng cứ gốc, đối với chứng cứ gián tiếp thì khi sử dụng phải kết hợp cùng chứng cứ khác V.V.. Từ việc phân loại chứng cứ, tòa án có thể xác định được phạm Vì những chứng cứ, tài liệu cần phải thu thập, xác định được yêu cầu sử dụng đối với chứng cứ cụ thể V.V.. bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp nhà đất (luật sư đất đai) của Công ty Luật TNHH Everest

2-  Nguồn chứng cứ

Một trong những vấn đề khá quan trọng về chứng cứ là nguồn chứng cứ. Nguồn được hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp hay rút ra cái gì, điều gì. Do đó, nguồn chứng cứ được hiểu là nơi rút ra các chứng cứ.

Nguồn chứng cứ bao gồm người, vật, tài liệu mang các thông tin về vụ việc dân sự. Như vậy, nguồn chứng cứ có hai loại chủ yếu là người, vật và tài. liệu. Việc phân biệt các nguồn chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị chứng minh của mỗi loại chứng cứ. Thông thường, các chứng cứ được rút ra từ các vật, tài liệu thì việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng không mấy phức tạp vì chúng ít bị chi phối bởi ngoại cảnh. Đối với những chứng cứ được rút ra từ con người như đương sự, người làm chứng việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng rất phức tạp. Nét chung nhất của con người với nghĩa là nguồn chứng cứ bị chi phối rất lớn bởi yếu tố lợi ích, tâm lý, khả năng nhận thức, nhớ và phản ánh lại những gì họ thấy, sự quan tâm của họ đối với sự kiện v.v.. Tất cả những yếu tố này đều phải tính đến khi nghiên cứu, đánh giá và sử dụng các chứng cứ được rút ra từ đương sự, người làm chứng.

Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau. Tuy vậy, trên thực tế chúng thường được hiểu là một. Bởi, trong một số trường hợp, các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rút ra các tin tức về vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ V.V.. tức cũng là nguồn chứng cứ. Việc phân biệt nguồn chứng cứ với phương tiện chứng minh chẳng qua là do nhìn chúng trên những phương diện, góc độ khác nhau như là nơi rút ra chứng cứ hay là công cụ được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ việc dân sự. Nguồn chứng cứ được quy định tại Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo các quy định này thì nguồn chứng cứ bao gồm: các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực và các nguồn khác mà pháp luật có quy định. Theo quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì chứng cứ được xác định trên cơ sở các nguồn chứng cứ này như sau:

(i) Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;

(ii) Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó;

(iii) Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;

(iv) Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;

(v) Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;

(vi) Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

(vii) Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

(viii) Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

(ix) Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

(x)  Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;

(xi) Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.

Xét trên phương diện lý luận thì không thể coi tất cả những thứ Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định đều là nguồn chứng cứ vì không phải từ tất cả chúng đều rút ra được các chứng cứ. Mặt khác, để xác định được chứng cứ thì toà án và các chủ thể chứng minh khác cũng phải sử dụng một số phương tiện quy định trong Điều luật này.

Ví dụ: Để xác định dấu vết trên phương tiện giao thông có phải là chứng cứ của vụ tai nạn giao thông để lại không thì phải sử dụng kết luận giám định. Trong trường hợp này, kết luận giám định là phương tiện được sử dụng để xác định chứng cứ. Tuy vậy, các quy định nêu trên vẫn là những cơ sở pháp lý quan trọng để tòa án xác định chứng cứ.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư riêng của Công ty Luật TNHH Everest

3- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Phân loại và nguồn chứng cứ được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Phân loại và nguồn chứng cứ có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments